Giao Tiếp Trắc Ẩn

Giao tiếp Trắc ẩn (GTTA – Compassionate Communication) còn được gọi là Giao tiếp Phi bạo lực – Nonviolent Communication. Mô hình GTTA cấu thành từ 4 trụ cột chính: Thực hành tinh thần, Ngôn ngữ, Kỹ năng giao tiếp và Phương thức tạo ảnh hưởng – chia sẻ quyền lực giữa các bên, nhằm:

  • Hiểu, bày tỏ được cảm xúc và nhu cầu của bạn trong thấu suốt và có trách nhiệm với chính mình;
  • Lắng nghe được người khác về cảm xúc và nhu cầu của họ với lòng trắc ẩn và sự đồng cảm;
  • Đi đến những kết quả giao tiếp có ích cho tất cả các bên tham gia.

Trụ cột #1 của Giao tiếp Trắc ẩn: Thực hành tinh thần

Giao tiếp Trắc ẩn (Giao tiếp Bất bạo lực) khởi nguồn từ truyền thống Tâm lý học Nhân văn của Tiến sĩ Carl Rogers, vốn nhấn mạnh sự đồng cảm là chìa khóa cơ bản để tâm lý con người được phát triển và các mối quan hệ được chu toàn.

Bài giảng năm 1964 của Rogers tại Viện Công nghệ California (Rogers, 1980) thường xuyên được Rosenberg đề cập đến như một nguồn cảm hứng cốt lõi. Trong bài giảng đó, Rogers nhấn mạnh tầm quan trọng của các thực hành sau: thẳng thắn về trạng thái cảm xúc của chính mình; giá trị sâu sắc của sự tương đồng (congruence) giữa trải nghiệm nội tâm – ý thức của chúng ta về trải nghiệm đó – và cái chúng ta nói ra ngoài; sự thỏa mãn khi ta thực sự lắng nghe người khác theo cách mà họ thấy được cùng tần số; và sức sống đến từ việc cho và nhận tình cảm trân quý vô điều kiện.

Bên cạnh Carl Rogers, triết lý bất bạo lực (ahimsa) của Gandhi cũng là một ảnh hưởng lớn đến Tiến sĩ Rosenberg. Ahimsa được dịch là tình yêu tràn đầy nảy sinh khi mọi ác ý, giận dữ và thù hận đã lắng xuống khỏi trái tim (Fischer, 1962). Luật sư – hòa giải viên Steven Smith, một người thực hành Giao tiếp Bất bạo lực, chỉ ra rằng: Cách tiếp cận của Gandhi, tuy truyền cảm hứng sâu sắc, nhưng lại yêu cầu những thay đổi sâu rộng về lối sống và các quá trình tự soi chiếu phức tạp mà hầu hết người phương Tây không thể đạt được. Tiến sĩ Rosenberg đã chắt lọc triết lý của Gandhi để tạo ra một quy trình thiết thực, dễ tiếp cận, để phát triển tinh thần bất bạo lực trong tương tác với bản thân và người khác

Roseberg đã xác định được điểm mấu chốt: cái khoảnh khắc khi chúng ta lựa chọn sẽ liên hệ với người khác như thế nào. Giao tiếp Bất bạo lực cung cấp một cú pháp, giúp chúng ta tập trung ngôn ngữ vào vẻ đẹp của nhu cầu, và nhờ vậy mà tập trung được suy nghĩ và sự chú ý.

Trụ cột #2 của Giao tiếp Trắc ẩn: Ngôn ngữ

Trong những năm đầu của sự nghiệp, Tiến sĩ Rosenberg làm việc với các trẻ em được xác định là có khuyết tật học tập, và các nghiên cứu trong giai đoạn này cho thấy ông quan tâm về ngôn ngữ học tâm lý (psycholinguistics) và sức mạnh của việc sử dụng ngôn ngữ. Qua gần 30 năm phát triển và hoàn thiện mô hình Giao tiếp Trắc ẩn (Giao tiếp Bất bạo lực), ông đã đúc kết lại một bản hướng dẫn nhằm hỗ trợ các bên vừa bày tỏ nhu cầu của mình một cách quyết đoán và trung thực, vừa lắng nghe với lòng tôn trọng và thấu cảm. Bạn có thể đọc thêm về mô hình căn bản này tại đây: https://www.facebook.com/giaotieptracan/posts/4620811581306192

Trụ cột 3 của Giao tiếp Trắc ẩn: Kỹ năng Giao tiếp

Học Giao tiếp Trắc ẩn cũng giống như học một ngôn ngữ mới. Bên cạnh việc bổ sung vốn từ vựng về cảm xúc và nhu cầu, hiểu về cú pháp, phân biệt giữa những khái niệm dễ gây hiểu nhầm, việc thực hành giao tiếp là phần quan trọng nhất. Chỉ khi chúng ta thường xuyên luyện tập, ngay từ trong những tình huống dễ xử lý, chúng ta mới có thể thành thạo các kỹ năng giao tiếp để đem ra sử dụng trong những tình huống ‘khó nhằn’. Dưới đây là một vài kỹ năng cơ bản của Giao tiếp Trắc ẩn:

  1. Nhận diện cảm xúc
  2. Chấp nhận bản thân
  3. Tự chủ về cảm xúc của bản thân
  4. Nhận diện nhu cầu
  5. Lắng nghe cơn giận của người khác
  6. Từ chối người khác
  7. Cởi mở với phản hồi và/hoặc lời từ chối của người khác
  8. Ngắt lời
  9. Chuyển hoá hình tượng kẻ thù
  10. Hối tiếc một cách có ích
  11. Linh hoạt trong tương tác với người khác
  12. Chuyển hoá mâu thuẫn
  13. Chia sẻ quyền lực
  14. Mở lòng trong dòng chảy cho và nhận

Bạn có thể tìm hiểu thêm về những năng lực và kỹ năng của Giao tiếp Trắc ẩn tại đây: https://giaotieptracan.com/2021/12/10/bo-cong-cu-28-nang-luc-gtta-nhung-loi-ve-tu-do/

Trụ cột #4 của Giao tiếp Trắc ẩn: Phương thức tạo ảnh hưởng

Anger Transference – Richard Sargent. The Saturday Evening Post (20/03/1954)

Đa số chúng ta đều rất quen thuộc với phương thức tạo ảnh hưởng truyền thống được minh họa trong khung hình trên. Chúng ta chỉ trích và đổ lỗi cho người khác, hoặc cho chính mình. Chúng ta nén nhịn phục tùng, hoặc nổi loạn và phản kháng. Chúng ta tích luỹ quyền lực để đe dọa và áp chế người khác theo ý của mình, dù bằng vũ lực hay chiến tranh lạnh. Nhưng đó không phải là những cách duy nhất. Giao tiếp Trắc ẩn chứng minh rằng: có những cách khác để tạo ảnh hưởng mà vẫn mời gọi sự tự chủ và mong muốn đóng góp luôn có sẵn trong mỗi con người.

Ngay từ những ngày đầu, mục tiêu trọng tâm của mô hình Giao tiếp Trắc ẩn là tái cấu trúc triệt để vai trò của giáo viên-học sinh trong lớp học, để tạo điều kiện cho học sinh có trách nhiệm lớn hơn trong quá trình học tập và tham gia nhiều hơn vào việc ra quyết định (Rosenberg, 1968, 1970, 1972, 1973). Trong 40 năm tiếp theo đó, mục tiêu này của Giao tiếp Trắc ẩn được mở rộng để bao gồm tất cả các mối quan hệ thứ bậc được thể chế hóa (ví dụ: cảnh sát-công dân, sếp-nhân viên, linh mục-giáo dân, v.v.), và các quan hệ thứ bậc không chính thức (ví dụ: đàn ông-đàn bà, giàu-nghèo, người già-người trẻ, cha mẹ – con cái, v.v.), nhằm hướng tới việc chuyển hóa mô hình ‘thống trị’ dựa trên sự sợ hãi và trừng phạt, sang một mô hình ‘cộng tác’ dựa trên sự phục hồi mối quan hệ và tôn trọng lẫn nhau (Skye, 2004; Eisler, 2000).

GIỚI THIỆU VỀ BÁC MARSHALL ROSENBERG

Giao tiếp Trắc ẩn – Sinh ra trong lòng cộng đồng

Vào những năm 1960, Tiến sĩ Rosenberg được giao trách nhiệm hỗ trợ quá trình hòa nhập chủng tộc trong các trường học và tổ chức trên khắp miền Nam Hoa Kỳ. Mô hình Giao tiếp Trắc ẩn được hình thành từ chính kinh nghiệm hòa giải mâu thuẫn giữa người da đen và người da trắng của ông.

Trong sự nghiệp của mình, Tiến sĩ Rosenberg chuyển hướng từ khám chữa tâm lý lâm sàng sang làm việc tập trung vào cộng đồng. Sự chuyển hướng này được ảnh hưởng mạnh mẽ bởi những tư tưởng của các nhà tâm lý học và xã hội học tiên tiến, như: Erich Fromm (1955) nhấn mạnh rằng sức khoẻ tâm thần của cá nhân phụ thuộc vào cấu trúc xã hội của một cộng đồng, George Albee (1967) khẳng định rằng nếu chỉ dựa vào các nhà trị liệu thì sẽ không thể đáp ứng đủ nhu cầu tâm lý của tất cả mọi người, và niềm tin của George Miller (1969) rằng kiến thức về hành vi và tâm lý con người cần phải được trao tặng đến cộng đồng càng rộng rãi và dễ tiếp cận càng tốt.

Trong quá trình làm việc với các cộng đồng và tổ chức, Tiến sĩ Rosenberg thường được yêu cầu rằng ông hãy tạo ra, trong ba ngày, với một nhóm người lớn, kết quả tương đương với những gì ông đạt được với một cá nhân trong suốt nhiều tháng hoặc thậm chí nhiều năm, ở bối cảnh lâm sàng. Mô hình ngôn ngữ của Giao tiếp Trắc ẩn được giới thiệu ở trên chính là giải pháp của ông cho bài toán đó.

Đọc thêm: https://www.giaotieptracan.com/vi/2021/07/11/marshall-b-rosenberg-papa-cua-giao-tiep-trac-an-2/

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *