Bài viết được dịch từ bài giảng của Marshall Rosenberg [phút 14-28] tại audio: Universal Human needs, ~1.500 từ, thời gian đọc 6-8 phút.

Giao tiếp Trắc ẩn tin rằng “Cảm xúc là dấu hiệu chỉ báo cho Nhu cầu”
Khi nhu cầu của chúng ta được đáp ứng, chúng ta cảm thấy dễ chịu. Khi nhu cầu của chúng ta không được đáp ứng, chúng ta cảm thấy khó chịu. Đây là cách mà mẹ tự nhiên giúp chúng ta đánh giá môi trường sống của chính mình, xem những gì đang xảy ra có phục vụ sự sống bên trong ta hay không.
Nếu chúng ta ăn những thực phẩm không tốt cho sức khỏe, chúng ta sẽ cảm nhận những phản ứng khó chịu trong cơ thể. Mặt khác, nếu chúng ta cảm thấy khỏe mạnh, tràn đầy năng lượng, cảm xúc này cho chúng ta biết rằng nhu cầu về dinh dưỡng của chúng ta đã được đáp ứng tốt.
Phần quan trọng nhất của tiến trình Bày tỏ trung thực trong Giao tiếp Trắc ẩn, là khả năng làm rõ những gì đang xảy ra với nhu cầu của chúng ta tại một thời điểm nhất định. […] Và điều này đòi hỏi sự Ý thức về Nhu cầu (Need Consciousness), và sự thông thạo về nhu cầu (Need Literacy) – điều mà ta không dễ dàng có được. Bởi vì, những cấu trúc xã hội mà chúng ta quen thuộc trong một thời gian dài, giáo dục ta theo cách khiến mỗi người không kết nối với nhu cầu của mình. Mọi người không trở thành những nô lệ tốt cho quyền lực khi họ ý thức về sự sống trong mình, và nhu cầu chính là sự sống đang vận động bên trong ta.
Chúng ta không những đã không được dạy & chuẩn bị vốn từ vựng nhu cầu, cũng như sự thông thạo để bày tỏ nhu cầu của mình, mà chúng ta còn được dạy rất nhiều về một lối tư duy khiến cho việc “có nhu cầu” trở nên đáng xấu hổ.
Trong 40 năm đi khắp Thế giới làm công việc này, rất nhiều phụ nữ nói với tôi về những khó khăn họ gặp phải khi bày tỏ nhu cầu của mình. Họ được dạy rằng những người phụ nữ giàu tình yêu thương sẽ không có nhu cầu, họ cần hy sinh nhu cầu của mình cho gia đình. Đàn ông cũng gặp khó khăn tương tự, họ được dạy rằng những người đàn ông dũng cảm không có nhu cầu, vì vậy họ sẵn sàng hy sinh mạng sống của mình cho nhà vua hoặc cho màu cờ Tổ quốc. Vì vậy, chúng ta đã được giáo dục theo một cách khiến chúng ta xa rời sự sống, cắt đứt khỏi những kết nối với nhu cầu của mình.
Thay vì dùng ngôn ngữ của sự sống để đánh giá, chúng ta đã được dạy để đánh giá bằng cách tham chiếu đến đúng và sai, bằng sự chỉ trích người khác. Trong khóa đào tạo của chúng tôi, chúng tôi mời bạn nên chắc chắn rằng bạn học cách Bày tỏ trung thực mà không có bất kỳ sự chỉ trích nào, không có bất kỳ sự đổ lỗi nào, không có bất kỳ sự phán xét nào theo cách khiến những người nghe thấy rằng những gì họ đang làm là xấu hoặc sai.
Khi tôi nói điều này, nhiều người cảm thấy rất bối rối và khó chịu. Họ nhận thấy mọi chuyện đều xoay quanh việc bị cấp trên/ người có thẩm quyền đánh giá. Nếu được đánh giá là đúng, bạn sẽ được tưởng thưởng, còn nếu là sai, bạn sẽ bị trừng phạt. Toàn bộ ý niệm về tôn giáo của họ là hình dung một vị Thần ngự trên cao và xét đoán con người là tốt, xấu, đúng, sai. Khi qua đời, nếu đủ tốt, họ sẽ lên thiên đàng, còn nếu xấu, họ sẽ xuống địa ngục.
Toàn bộ não bộ và ý thức của chúng ta bị định hình bởi ngôn ngữ của sự chỉ trích, đổ lỗi, và chúng ta bị ngắt kết nối với những nhu cầu của mình.
Tôi đã nói về điều này ở Rome, Ý với một nhóm 80 giáo viên tại các trường Công giáo. Tất cả đều là nữ tu hoặc linh mục. Ngày đầu tiên, chúng tôi dành nhiều thời gian cho chủ đề làm thế nào để trung thực mà không chỉ trích người khác theo lối tư duy đúng sai.
Sáng hôm sau, khi tôi đến, một số người tham gia đã đợi để bày tỏ với tôi. Họ nói rằng họ đã rất khó chịu về những gì họ nghe từ tôi ngày hôm trước. Một trong những nữ tu nói: “Ngày hôm qua, ông đã phá hủy tất cả những gì tôi từng tin tưởng.”
Tôi nói: “Thưa Sơ, tôi đã nói gì mà lại có tác động như vậy?”
Sơ ấy trả lời: “Ông nói rằng chúng ta không nên phán xét người khác, chúng ta không nên nói liệu những gì họ làm là đúng hay sai. Chúng ta không nên phán xét họ mà chỉ nên để họ làm bất cứ điều gì họ muốn. Họ muốn ăn cắp và cướp bóc bất cứ thứ gì cũng được, chỉ là đừng phán xét họ.”
Và tôi nói: “Cảm ơn Sơ đã cho tôi biết đó là những gì Sơ đã nghe. Tôi có thể thấy rằng tôi đã không làm rõ ý mình. Tôi không đề xuất rằng chúng ta không phán xét hoặc đánh giá hành vi của con người. Tôi đề xuất rằng chúng ta không phán xét họ theo cách duy trì công lý trừng phạt, dựa trên khái niệm trừng phạt và khen thưởng. Tôi nghĩ điều rất quan trọng là phải trung thực, để đánh giá và phán xét bằng ngôn ngữ của sự sống, điều đó cho mọi người biết liệu nhu cầu của chúng ta có được đáp ứng hay không từ những gì họ đang làm.”
Tất nhiên, điều này không dễ dàng để mọi người đón nhận, bởi như tôi đã nói, chúng ta không chỉ không được khuyến khích phát triển ngôn ngữ của sự sống, ngôn ngữ của nhu cầu, mà còn được giáo dục một cách có hệ thống để đè nén nhu cầu của mình. Bởi con người sẽ không thể trở thành nô lệ tốt khi họ được kết nối với sự sống.
Phát triển khả năng nhận biết nhu cầu
Phần lớn các khóa đào tạo về Giao tiếp Trắc ẩn được thiết kế để giúp người tham gia phát triển nhận thức và khả năng nhận diện nhu cầu, cũng như học cách bày tỏ những nhu cầu này với người khác bằng ngôn ngữ mà đối phương có thể dễ dàng nhận ra nhu cầu đó, mà không nghe thấy bất kỳ lời chỉ trích nào. Vì nhiều người không có sẵn vốn từ vựng này, chúng ta cần thực hành các bài tập để người tham gia rèn luyện năng lực này nhiều hơn.
Điều này tương tự như học một ngôn ngữ mới.
Tôi thường mời mọi người viết ra những lời chỉ trích, đổ lỗi mà họ sử dụng nhiều nhất trong đời sống hàng ngày. Họ lập một danh sách các từ này. Với một số người, “ích kỷ” là một trong những từ hàng đầu, ví dụ như “Đó là một hành động ích kỷ” hay “Đó là một việc ngu ngốc” hoặc “Anh không có quyền làm điều đó.“
Khi đã có danh sách những lời chỉ trích và phán xét thường xuyên sử dụng, chúng tôi mời người tham gia đưa ra một quan sát về điều mà người kia đã làm, chính là tác nhân kích thích cho những lời nói đó.
Khi người tham gia đã xác định được quan sát khách quan về 1 hành động cụ thể, tôi hỗ trợ họ nhận ra “mọi lời chỉ trích và đổ lỗi đều là một cách biểu đạt bi kịch của một nhu cầu chưa được đáp ứng”. Chúng ta có thể bày tỏ chân thật bằng cách nói ra nhu cầu là gì, thay vì dùng lời lẽ mang tính đổ lỗi hay chỉ trích. Điều này không dễ dàng vì mọi người thường không có ngôn ngữ về nhu cầu.
Nhu cầu phổ quát của con người
Tôi gợi ý rằng mỗi người nên có ít nhất vốn từ vựng về chín nhu cầu cơ bản của con người.
Tôi chọn con số chín sau khi đọc nghiên cứu của Manfred Max-Neef, một nhà kinh tế học người Chile. Toàn bộ hệ thống kinh tế của ông ấy được xây dựng dựa trên nhu cầu của con người.
Manfred Max-Neef và các đồng nghiệp của ông đánh giá sự thành công của một nền kinh tế theo một cách hoàn toàn khác so với cách chúng ta thường làm ở Hoa Kỳ.
Ở Hoa Kỳ, chúng ta đo lường sự thành công bằng Tổng sản phẩm quốc dân (GNP), về cơ bản là số tiền kiếm được ở một số lĩnh vực nhất định. Hệ thống này cho thấy một nền kinh tế “thành công” khi người giàu ngày càng giàu hơn và người nghèo ngày càng nghèo đi.
Cách Manfred Max-Neef nhìn nhận thành công của một nền kinh tế rất khác biệt. Đối với ông, một nền kinh tế thành công là khi tất cả mọi người trong xã hội đều được đáp ứng những nhu cầu cơ bản của mình.
Vì toàn bộ hệ thống kinh tế của ông được xây dựng dựa trên nhu cầu con người, Max-Neef đã dành rất nhiều công sức nghiên cứu để tìm ra những nhu cầu cơ bản nhất mà chúng ta cần được đáp ứng để có một thế giới an toàn, khỏe mạnh và hòa bình. Cuối cùng, ông đưa ra danh sách chín nhu cầu chính.
Ông đánh giá sự thành công của một hệ thống kinh tế bằng việc những nhu cầu này được đáp ứng tốt đến mức nào cho tất cả mọi người.
Điều này thực sự đã giúp ích rất nhiều cho tôi. Trước đây, tôi có khoảng 50 từ khác nhau để diễn tả các nhu cầu. Tôi nhận ra rằng nhiều từ trong số đó thực chất chỉ là những cách nói khác nhau về cùng một nhu cầu. Và tôi nhận ra Max-Neef có lẽ đúng: chúng ta chỉ có khoảng chín nhu cầu cốt lõi mà chúng ta cần học cách diễn đạt thật tốt cho người khác hiểu.
Mô hình Human-scale Development Model của Max-Neef
Max-Neef phân loại các nhu cầu cơ bản của con người bao gồm: sinh tồn, được bảo vệ, tình cảm, sự hiểu biết, sự tham gia, giải trí (theo nghĩa thư giãn, thời gian để suy ngẫm, hoặc nhàn rỗi), sáng tạo, bản sắc và tự do. Các nhu cầu này cũng được định nghĩa dựa trên các khía cạnh hiện sinh là là gì (being), có gì (having), làm gì (doing) và tương tác (interacting). Từ những khía cạnh này, một ma trận 36 ô được phát triển và có thể điền vào đó các ví dụ về cách thức đáp ứng (satisfiers) cho những nhu cầu đó.
| Nhu cầu thiết yếu cơ bản | Thuộc tính (Being) | Sở hữu(Having) | Hành động(Doing) | Bối cảnh/ Môi trường (settings) |
| Sinh tồn (Subsistence) | Sức khỏe thể chất và tinh thần | Thực phẩm, nơi ở, công việc | Ăn, mặc, nghỉ ngơi, làm việc | Môi trường sống, môi trường xã hội |
| Bảo vệ (Protection) | Sự quan tâm, khả năng thích nghi, sự tự chủ | An sinh xã hội, hệ thống y tế, công việc | Hợp tác, lập kế hoạch, chăm sóc, giúp đỡ | Môi trường xã hội, nơi ở |
| Tình cảm (Affection) | Tôn trọng, óc hài hước, sự rộng lượng, sự thân mật | Tình bạn, gia đình, mối quan hệ với thiên nhiên | Chia sẻ, chăm sóc, yêu thương, bày tỏ cảm xúc | Sự riêng tư, không gian thân mật của sự gắn kết |
| Hiểu biết (Understanding) | Khả năng phản biện, sự tò mò, trực giác | Học liệu, giáo viên, chính sách | Phân tích, nghiên cứu, suy ngẫm, điều tra | Trường học, gia đình, cộng đồng |
| Tham gia (Participation) | Sự tiếp thu, sự tận tâm, óc hài hước | Trách nhiệm, nghĩa vụ, công việc, quyền lợi | Hợp tác, bất đồng quan điểm, bày tỏ ý kiến | Hội nhóm, đảng phái, nhà thờ, khu dân cư |
| Giải trí (Leisure) | Trí tưởng tượng, sự tĩnh lặng, sự ngẫu hứng | Trò chơi, tiệc tùng, sự bình an nội tâm | Mơ mộng, hồi tưởng, thư giãn, vui chơi | Phong cảnh, không gian riêng tư, nơi để ở một mình |
| Sáng tạo (Creation) | Trí tưởng tượng, sự táo bạo, phát kiến, sự tò mò | Năng lực, kỹ năng, công việc, kỹ thuật | Sáng tạo, xây dựng, thiết kế, làm việc, sáng tác, trình diễn | Không gian để thể hiện, nhà xưởng, khán giả |
| Bản sắc (Identity) | Cảm giác thuộc về, lòng tự trọng, sự nhất quán | Ngôn ngữ, tôn giáo, công việc, phong tục, giá trị, chuẩn mực | Tự tìm hiểu bản thân, phát triển, cam kết | Nơi mình thuộc về, không gian hàng ngày |
| Tự do (Freedom) | Tính tự chủ, niềm đam mê, lòng tự trọng, sự cởi mở | Quyền bình đẳng | Bất đồng, lựa chọn, chấp nhận rủi ro, phát triển nhận thức | Bất cứ nơi nào |
Để bạn dễ hình dung, tôi sẽ giới thiệu chín nhu cầu mà Manfred Max-Neef đề cập, và tôi sẽ dùng ngôn ngữ của mình để diễn giải, nhưng đây chính là những nhu cầu mà ông ấy đã chỉ ra:
Đầu tiên là Nuôi dưỡng (Sustenance). Ý ông là những nhu cầu thể chất cơ bản như thức ăn, không khí, nước uống, chỗ ở. Hầu hết chúng ta đều khá giỏi trong việc bày tỏ những nhu cầu này. Có lẽ chúng ta đã học cách thể hiện chúng thật nhanh nếu không muốn… chết đói!
Nhu cầu tiếp theo mà Manfred Max-Neef nói đến là An toàn, được bảo vệ (Safety, Protection). Nhu cầu thứ ba là Tình yêu thương (Love). Nhu cầu thứ tư là Sự thấu cảm (Empathy). Nhu cầu thứ năm là Nghỉ ngơi, giải trí, vui chơi (Rest, Recreation, Play). Nhu cầu thứ sáu là Cộng đồng (Community) – một cộng đồng ấm áp. Nhu cầu thứ bảy là Sáng tạo (Creativity).
Và hai nhu cầu cuối cùng đặc biệt quan trọng đối với sự an toàn và hòa bình trên hành tinh của chúng ta.
Nhu cầu thứ tám là Tự chủ (Autonomy). Hãy thử đọc báo hàng ngày mà xem, bạn sẽ thấy bao nhiêu cuộc chiến tranh đang diễn ra chỉ vì nhu cầu tự chủ này. Con người chúng ta có một nhu cầu mạnh mẽ là được tự lựa chọn cách sống của mình, chứ không phải bị người khác ra lệnh cần phải làm gì. Khi ai đó cố gắng ra lệnh cho chúng ta, nó đe dọa nhu cầu rất cơ bản là sự tự chủ của chúng ta.
Nhu cầu này đã tồn tại trong chúng ta từ rất sớm. Hãy lắng nghe bất kỳ gia đình nào có con nhỏ, bạn sẽ thường nghe thấy những “cuộc chiến tự chủ” đang diễn ra. Cha mẹ sẽ nói với con, “Con phải làm cái này!” và đứa trẻ sẽ nói “Không”. Cha mẹ nói, “Con có nghe thấy không? Con phải làm cái này!” – “Không!” Đó chính là một cuộc chiến tự chủ. Đứa trẻ đang nghe những mệnh lệnh, và khi chúng ta nghe những mệnh lệnh, nó đe dọa nhu cầu rất cơ bản của chúng ta là được tự chọn con đường riêng của mình.
Nhu cầu thứ chín, được Viktor Frankl, nhà tâm thần học người Áo, mô tả là có lẽ là nhu cầu quan trọng nhất. Quan trọng theo nghĩa để sống một cuộc đời trọn vẹn. Ông gọi đây là nhu cầu về Ý nghĩa (Meaning), nhu cầu về mục đích. Khi tôi sử dụng từ này, tôi thường diễn tả theo cách: đó là nhu cầu được cống hiến cho cuộc đời, để thấy những nỗ lực của mình làm cho cuộc sống trên hành tinh này trở nên phong phú hơn.
Tôi khuyên bạn nên đưa chín nhu cầu cơ bản này vào từ vựng hàng ngày của riêng bạn. Đôi khi, những từ tôi dùng có thể không phải là từ mà bạn – hoặc những người bạn đang nói chuyện, thường sử dụng. Vì vậy, với mỗi trong số 9 nhu cầu này, hãy cố gắng tìm những từ ngữ diễn tả chúng một cách chân thật nhất đối với bạn – những từ thực sự giúp bạn cảm nhận và hiểu rõ về nhu cầu đó.
Khi bạn đã xây dựng được một kho từ vựng về nhu cầu phù hợp với mình, bạn có thể sẽ thấy nó lại chưa phù hợp lắm với những người bạn tương tác hàng ngày.
Ví dụ, nếu nhà bạn có một đứa trẻ ba tuổi, từ “tự chủ” có thể không có ý nghĩa gì với bé, dù bạn hiểu rõ từ đó và nó diễn tả đúng nhu cầu tự chủ của chính bạn. Đứa trẻ ba tuổi có thể không dùng từ “tự chủ”, nhưng chúng vẫn có nhu cầu tự chủ, bởi vì tất cả mọi người, dù ở độ tuổi nào, cũng đều có những nhu cầu giống nhau.
Đây là một điều cực kỳ quan trọng: phải luôn ý thức rằng mọi con người đều có chung những nhu cầu cơ bản.
Dù chúng ta có thể dùng những từ ngữ khác nhau để mô tả những nhu cầu này, thì mọi người đều cùng có những nhu cầu. Để thực sự kết nối sâu sắc và xây dựng lòng trắc ẩn giữa bản thân và người khác, chúng ta cần biết cách diễn đạt nhu cầu của mình bằng ngôn ngữ mà đối phương có thể hiểu và cảm nhận được.
Vì vậy, hãy lấy danh sách 9 từ khóa nhu cầu này và điều chỉnh chúng sao cho bạn cảm thấy phù hợp nhất với ý nghĩa các nhu cầu đối với mình. Sau đó, nếu bạn đang sống cùng một đứa trẻ ba tuổi, hãy tìm cách diễn đạt từng nhu cầu này sao cho đứa trẻ có thể hiểu được. Nếu bạn đang làm việc với các thành viên băng đảng đường phố, hãy học cách nói những nhu cầu này bằng ngôn ngữ mà họ có thể tiếp nhận. Nếu bạn làm việc với các giáo sư đại học, hãy “dịch” chúng sang ngôn ngữ của họ.
Nói cách khác, nếu chúng ta thực sự muốn kết nối với con người theo cách mà chúng ta cùng tận hưởng và đóng góp vào hạnh phúc của nhau, chúng ta cần phải rất am hiểu về ngôn ngữ của các nhu cầu.
Chuyển ngữ: Vân Trang & Thắm Trần