Giao Tiếp Trắc Ẩn

Có rất nhiều lời khuyên trên thế giới về cách chữa lành những vết thương tâm lý và cách để thực hành tự trắc ẩn với bản thân mình. Nhưng chúng ta thường không tìm hiểu TẠI SAO chúng ta bị tắc nghẽn và làm thế nào chúng ta có thể sử dụng thông tin đó để hỗ trợ quá trình chữa lành của mình.

10 khái niệm cốt lõi về Chữa lành Cộng hưởng là những khái niệm khoa học thần kinh nền tảng trong cuốn sách của Sarah Peyton, “Your Resonant Self” (Bản ngã Cộng hưởng của bạn). 10 khái niệm này cho chúng ta một khung hiểu biết để dựa vào khi quan sát những trở ngại của mình, và cho chúng ta một con đường rõ ràng để chữa lành.

Khái niệm #1: Cộng hưởng | Khái niệm #2: Sự ấm áp dành cho bản thân | Khái niệm #3: Tính dẻo của thần kinh | Khái niệm #4: Mạng lưới Chế độ Mặc định | Khái niệm #5: Bán cầu não trái và phải | Khái niệm #6: Nhận thức tập trung vào cơ thể | Khái niệm #7: Dây thần kinh phế vị | Khái niệm #8: Trải nghiệm chấn thương là về sự mất mát người đồng hành | Khái niệm #9: Đồng cảm xuyên thời gian | Khái niệm #10: Mạch cảm xúc + Động lực

Khái niệm #1: Cộng hưởng

Bạn có biết rằng cơ thể chúng ta THỰC SỰ rung động với cảm xúc? Và mỗi cảm xúc lại có một rung động khác nhau? Hiểu biết này đến từ công trình nghiên cứu của Jaak Panksepp về các mạch thần kinh liên quan đến cảm xúc và động lực ở nhóm động vật có vú. 

Cơn giận tác động đến chúng ta theo một cách khác với nỗi buồn. Chúng ta được thiết lập để có những trạng thái cảm xúc mà đồng loại của mình có thể nhận diện được, bất kể cảm xúc đó có phức tạp thế nào, miễn là những người đồng loại đó cho phép họ có những rung động đáp lại chúng ta. 

Cộng hưởng là trải nghiệm khi ta cảm nhận bản thân được một người khác thấu hiểu trọn vẹn, và được họ nhìn thấy một cách ấm áp và rộng mở. Đó còn là khả năng ở lại trọn vẹn với cảm xúc của chính mình và của người khác.

Có một công cụ chẩn đoán mà chúng ta có thể dùng để nhận ra nơi sự cộng hưởng của mình bị tắc nghẽn: hãy bắt đầu chú ý đến khi nào và tại sao chúng ta lại rời bỏ một mối quan hệ (với chính mình và người khác), và khi nào chúng ta không thể trải nghiệm trọn vẹn một cảm xúc cụ thể. Ví dụ, nếu chúng ta bắt đầu đau buồn và ngay lập tức trở nên tức giận, điều này có nghĩa là chúng ta không thể cộng hưởng với sự đau buồn. Chúng ta đã học được rằng phản ứng bằng sự tức giận thì dễ dàng hơn là cảm nhận nỗi đau buồn.

Một cách phổ biến khiến con người tự ngắt sự cộng hưởng của mình là chuyển sang bán cầu não trái (lý trí hóa, đưa ra lời khuyên, v.v.). Ta thường làm điều này khi một điều gì đó chạm đến giới hạn của “ngưỡng đón nhận” của mình — tức là khoảng trải nghiệm cảm xúc mà ta có thể chịu đựng được ở bản thân và ở người khác. Khi có những cảm xúc mà ta không thể cộng hưởng, khi cơ thể ta không thể giữ chúng trong trạng thái cộng hưởng, ta sẽ rút khỏi mối quan hệ như một cách để chăm sóc hệ thần kinh của mình, để không bị “chìm đắm” bởi những cảm xúc mà ta không muốn cảm nhận.

Hiểu về sự cộng hưởng là chìa khóa nếu chúng ta muốn học cách không quay lưng lại với chính mình, với người khác, và các thân chủ của mình (nếu nghề nghiệp của bạn là hỗ trợ người khác chữa lành và cảm nhận).

Khái niệm #2: Sự ấm áp tự thân

Bạn đã bao giờ để ý thấy những đứa trẻ (hoặc thậm chí cả những loài động vật có vú không phải con người) mang theo những con thú nhồi bông nhỏ hoặc một tấm chăn bên mình mọi lúc mọi nơi chưa? Đây thường là một chiến lược để những đứa trẻ nhỏ có thêm sự ấm áp mà chúng không nhận được từ những người chăm sóc chính của mình. Nếu con người đã hoàn toàn làm chúng ta thất vọng, thì thường chính những động vật nhỏ bé (bao gồm cả thú nhồi bông hoặc những vật dụng vô tri vô giác mang lại sự an ủi) có thể hỗ trợ chúng ta có được cảm giác gắn kết, ấm áp và tình cảm.

Đương nhiên là chúng ta có thể nhận được sự ấm áp theo những cách khác – có thể từ động vật, cây cỏ, hay các trải nghiệm thiêng liêng – nhưng trải nghiệm nhận được sự ấm áp từ con người là vô cùng quan trọng để não bộ của chúng ta phát triển một cách vững chắc sự ấm áp tự thân – yếu tố của các gắn bó an toàn, thông qua việc xây dựng các sợi thần kinh về sự gắn bó trong não bộ.

Trong thế giới phương Tây, có nhiều truyền thống cho rằng sự ấm áp dành cho bản thân là ích kỷ hoặc tội lỗi. Chúng ta thường được khuyến khích lan tỏa sự ấm áp ra bên ngoài, như lòng trắc ẩn đối với người khác hoặc đối với thế giới, nhưng lại được cảnh báo rằng không nên hướng “quá nhiều” sự ấm áp này vào bản thân.

Theo ý kiến ​​khiêm tốn của tôi, văn hóa phương Tây thiếu sự hiểu biết về tác hại sâu sắc của sự cô đơn đối với con người, và tầm quan trọng của việc học cách nuôi dưỡng sự ấm áp cho chính mình. Tôi gọi trạng thái hệ thần kinh của chúng ta khi không nhận được đủ sự ấm áp và chưa nội tâm hóa được sự tự nhận thức đầy yêu thương, là “nỗi cô đơn đáng báo động”.

Hiểu được cách thức và lý do tại sao bộ não con người cần sự ấm áp là lý do chính khiến liệu pháp chữa lành cộng hưởng giúp định hình lại hệ thần kinh của chúng ta, hướng tới lòng tốt và khả năng phục hồi.

Sự ấm áp tự thân là sự tích hợp và nội tâm hóa những trải nghiệm về tình yêu thương, sự hiện diện, sự thấu hiểu và lòng tốt đến từ người khác. Nếu chúng ta chưa nhận được điều này khi còn nhỏ, chúng ta có thể tự xây dựng nó thông qua việc nuôi dưỡng sự tự nhận thức đầy yêu thương của chính mình.

Khái niệm #3: Khả biến thần kinh (tính dẻo của não bộ) là có thật

Tại sao việc hiểu cách bộ não hoạt động lại quan trọng đối với quá trình chữa lành? Bởi vì tính dẻo của hệ thần kinh là nền tảng của hy vọng. Khoa học cho thấy các tế bào thần kinh có thể tìm thấy những kết nối hoàn toàn mới giữa các nhánh của chúng, các thụ thể mới cho chất dẫn truyền thần kinh, và có thể củng cố các kết nối thông qua luyện tập. Chúng ta có thể phát triển các sợi thần kinh mới để giữ hạch hạnh nhân, để ôm giữ cảm xúc của chính mình.

Vì con người là loài động vật có tính xã hội sâu sắc, nên các mạch gắn kết của chúng ta là những mạch có tính dẻo thần kinh cao nhất. Chúng ta có thể phát triển khả năng tự yêu thương và cộng hưởng, bất kể tuổi tác, bất kể khuynh hướng di truyền, và bất kể ta đã cảm thấy tổn thương đến mức nào. Tính dẻo của thần kinh là một sự thật khoa học. Bộ não của chúng ta thực sự có thể thay đổi.

Khái niệm #4: Mạng lưới Chế độ Mặc định

Các nhà khoa học vẫn đang tiếp tục khám phá những bí ẩn của Mạng lưới Chế Độ Mặc Định (Default Mode Network – DMN), nhưng ta biết chắc rằng DMN chịu trách nhiệm tích hợp những trải nghiệm mới. Nó giống như một người thợ may, khâu vá lại và tạo nên cảm thức của chúng ta về bản thân: ta là ai và ta gắn kết xã hội với người khác như thế nào – nó kể câu chuyện ta là ai. DMN là “tiếng nói bên trong” của ta — tiếng nói của DMN về bản chất là cảm thức của chúng ta về bản thân, được phản chiếu lại với chính chúng ta giống như một giọng nói kể với ta về chính mình, về những điều ta đã quên, những sai lầm ta đã mắc phải, v.v.

DMN chịu ảnh hưởng rất mạnh bởi sang chấn. Một người càng trải qua nhiều sang chấn, thì Mạng Lưới Chế Độ Mặc Định của họ càng mang đậm tính xấu hổ và tự chỉ trích. Các nhà tâm lý học đôi khi gọi cách tự chỉ trích này là “nhận thức tiêu cực về bản thân” (negative self-cognition). Nhờ các nghiên cứu chụp não fMRI, chúng ta biết rằng tiếng nói này trở nên khắc nghiệt hơn khi trải qua sang chấn. “Mình không đáng được sinh ra.” “Giá như mình đã không làm điều đó.” – Những sự tự phán xét này không phải bẩm sinh. Những trải nghiệm sang chấn làm cho não bộ của chúng ta trở thành một “người bạn cùng nhà” hà khắc và khó chung sống. 

Điều bất ngờ là, DMN thực ra đang cố gắng giúp ta. Nó cố “vá” lại chúng ta, để ta biết mình trải nghiệm bản thân như thế nào trong thế giới này, dựa trên những gì ta học được về con người của mình và những gì mình xứng đáng có. Nó cố giữ cho ta an toàn, để ta không còn bị bất ngờ nữa, để ta không lặp lại sai lầm lần nữa.

Học cách chữa lành một DMN khắc nghiệt và vụn vỡ thông qua sự cộng hưởng (resonance) là một ý niệm quan trọng để kiến tạo một bộ não ấm áp hơn.  Nhưng trước hết, chúng ta cần hiểu, hoàn toàn có lý do cho con người mà ta đã trở thành. DMN “tấn công” ta vì nó đang cố giúp ta, chỉ là nó cần học những câu chuyện mới.

Khái niệm #5: Bán cầu não trái và phải

Bộ não có hình dạng giống như một quả óc chó, với một bên trái và một bên phải gần như là hình ảnh phản chiếu của nhau, được gọi là bán cầu não trái và bán cầu não phải. Hai bán cầu não khác nhau về loại chất dẫn truyền thần kinh mà chúng sử dụng, cấu trúc vĩ mô (cách các tế bào thần kinh được tổ chức thành nhóm) và cấu trúc vi mô (cách các tế bào thần kinh tiếp xúc với nhau).

Rất dễ để chúng ta rơi vào lối suy nghĩ nhị nguyên và tách biệt hai bán cầu trong tâm trí, nhưng chúng luôn hoạt động cùng nhau.

Đối với bán cầu não trái, các sinh vật sống khác được coi như các công cụ hoặc các chức năng. Đối với bán cầu não phải, con người là những linh hồn, mỗi người đều nắm giữ kiến ​​thức và trí tuệ, và điều quan trọng là cách một tập thể hoạt động mà vẫn giữ được tiếng nói độc đáo của mỗi cá nhân. 

Đây là sơ đồ về sự khác biệt giữa hai bán cầu:

Bán cầu não trái quan tâm nhiều nhất đến những gì chúng ta làm được – nó theo dõi và đánh dấu “Hoàn thành” vào danh sách những việc cần làm.

Bán cầu não phải quan tâm nhiều nhất đến cách chúng ta được đón nhận và kết nối với người khác. Có bao nhiêu người khác trong căn phòng này có kết nối với tôi? Làm thế nào tôi có thể đóng góp và thuộc về hệ sinh thái phức tạp này?

Một phần quan trọng mà ta cần hiểu về sự khác biệt giữa hai bán cầu nằm ở nhận thức tập trung vào cơ thể – chúng ta tìm thấy những điều quý giá và ý nghĩa to lớn khi quan sát ​​cảm xúc thông qua cơ thể. Một lý do khác khiến chúng ta chú ý đến cơ thể là bởi đấy là cách chúng ta biết mình đang ở bán cầu não phải. Trong bán cầu não phải có tích hợp một tấm bản đồ cơ thể. Nó có khả năng giải mã các thông điệp đang đến với chúng ta, gán cho chúng những từ ngữ chỉ cảm xúc, và hiểu được một phần nào đó những khao khát sâu sắc nằm ở gốc rễ của những cảm xúc sâu sắc.

Bán cầu não trái có khả năng rất hạn chế trong việc liên hệ giữa hành động và hệ quả. Cảm xúc chỉ là những thứ bất tiện, chúng cản trở, làm chúng ta đau bụng, chúng không quan trọng và đơn giản cần phải chấm dứt. Chỉ khi được kết nối với bán cầu não phải, bán cầu não trái mới biết hoặc hiểu những món quà tuyệt vời mà cảm xúc và cơ thể có thể mang lại cho chúng ta trong việc hiện thực hoá ước mơ của mình.

Chúng ta có thể lựa chọn cách sống và nhận thức thế giới tùy thuộc vào mức độ chúng ta nhận được sự cộng hưởng.

Việc chuyển sang bán cầu não phải chỉ có thể thực hiện được khi chúng ta nhận được sự cộng hưởng. Đó là lý do tại sao sự cộng hưởng lại rất QUAN TRỌNG trong việc chữa lành tổn thương.

Khái niệm #6: Nhận thức lấy cơ thể làm trọng tâm

Có một số lý do khiến chúng ta đóng cơ thể của mình lại. Chúng ta có thể học thói quen này từ cha mẹ. Và/hoặc từ những trải nghiệm rất khó khăn đã xảy đến và gây tổn thương đến Mạng lưới Chế độ Mặc định, và từ đó có thể cản trở chúng ta tiếp cận các cảm giác của cơ thể.

Có một cách để kết nối với cơ thể là học cách trò chuyện với chính mình bằng ngôn ngữ cộng hưởng. Ngôn ngữ cộng hưởng là ngôn ngữ mang đến cho con người cảm giác được thấu hiểu. Loại ngôn ngữ này bao gồm: tự hỏi và gọi tên cảm xúc (kể cả chửi thề nếu cần); những ước mơ, khao khát, các nhu cầu sâu sắc phía sau các cảm xúc; các cảm giác trong cơ thể; các phép ẩn dụ mới, trí tưởng tượng hình ảnh, và thơ ca.

(Ngoài lề thì đây cũng là lý do vì sao các hoạt động của liệu pháp trị liệu Chòm sao (constellation) lại đẹp đẽ đến vậy: ta được trở thành một người khác, nhưng trong cơ thể của chính mình, cho phép cơ thể trải nghiệm những cảm xúc mạnh mẽ không phải của ta một cách an toàn. Giống như những bài tập thể dục cho kỹ năng nhận thức lấy cơ thể làm trọng tâm)

Khái niệm #7: Dây thần kinh phế vị

Có lẽ bạn đã nghe nói về lý thuyết đa dây thần kinh phế vị, công trình nghiên cứu của Stephen Porges, về phản ứng chiến đấu – bỏ chạy – tê liệt – phục tùng – v.v.? Dây thần kinh phế vị là một bó sợi thần kinh khổng lồ chạy từ sàn chậu đến đầu và kiểm soát phần lớn trải nghiệm sống và cảm giác an toàn và thuộc về của chúng ta, đặc biệt là trong cách chúng ta liên hệ với những người khác.

Thuật ngữ “phế vị bụng” đề cập đến trạng thái của hệ thần kinh khi chúng ta cảm thấy an toàn và có giá trị. Đặc biệt trong văn hóa phương Tây, người ta thường tin rằng bộ não trong hộp sọ là toàn tri và nắm quyền kiểm soát mọi thứ, bao gồm cả việc biết khi nào chúng ta an toàn hay không. Nhưng thực tế, chỉ có 10% sợi thần kinh phế vị chạy xuống dưới; 90% sợi còn lại chạy lên não từ cơ thể, cung cấp cho chúng ta những thông tin quan trọng về thế giới và những gì là an toàn (và không an toàn).

Điều này có nghĩa là chúng ta không thể tự mình ra lệnh cho bản thân cảm thấy như thế nào. Chúng ta có thể hiện diện, giải mã, giữ và cộng hưởng với những gì mình cảm thấy, nhưng chúng ta không thể tự bảo mình phải hạnh phúc khi đang buồn. Nếu chúng ta ở trạng thái trung lập, có quan hệ xã hội tốt, thư giãn và bình ổn, thì thực ra chúng ta cũng có thể tự đưa mình vào một trạng thái ý thức khác. Nhưng khi chúng ta đang bị kích hoạt thì không. 

Khi bị kích hoạt, điều chúng ta có thể làm là tạo ra sự cộng hưởng trong trải nghiệm cảm xúc của mình. Chúng ta tái cấu trúc bán cầu não phải để các tế bào của chúng ta biết rằng tất cả các thông điệp của chúng đã được tiếp nhận. Điều này giúp chúng bình tĩnh lại. Khi chúng ta có cảm nhận về sự an toàn ở dây thần kinh phế vị, cơ thể chúng ta sẽ thay đổi – chúng ta nhìn rõ hơn, nghe rõ hơn. Chúng ta giải mã, hiểu rõ hơn và có cảm giác an toàn cả về thể chất lẫn tinh thần.

Sự an toàn về mặt cảm xúc là cần thiết để con người có thể hoạt động đầy đủ. Hiểu được cách hoạt động của dây thần kinh phế vị là chìa khóa để có được lòng trắc ẩn và sự thấu hiểu đối với những trải nghiệm sợ hãi, phản ứng chiến đấu và bỏ chạy, và trạng thái tê liệt xảy ra khi chúng ta không thể sử dụng phần não lý trí. 

Khái niệm #8: Sang chấn là về sự thiếu đồng hành

Sang chấn không nhất thiết phải là một vụ cháy nhà, một trận động đất, một tai nạn xe hơi, cũng không nhất thiết phải là bị lạm dụng hoặc bỏ mặc. Điều quyết định xem một sự kiện có phải là sang chấn hay không là mức độ chúng ta được đồng hành với sự thấu hiểu ấm áp trong hoặc sau một trải nghiệm tổn thương. 

Tầm quan trọng của cách chúng ta được đón nhận sau sang chấn đã được chứng minh bằng nghiên cứu năm 2010 về những cậu bé chiến binh Nepal. Những cậu bé tham gia cuộc nội chiến và được chào đón khi trở về với cộng đồng đã có ít dấu hiệu rối loạn căng thẳng sau sang chấn hơn. Nhưng những cậu bé tham gia cùng cuộc chiến, chiến đấu sát cánh với những cậu bé khác, và khi trở về bị cộng đồng quay lưng lại có mức độ rối loạn căng thẳng sau sang chấn cao hơn nhiều.

Sang chấn để lại dấu vết trong não bộ bởi vì những ký ức khó khăn—những khoảnh khắc hoảng sợ không được giải quyết, khi chúng ta chuyển từ sự tương tác xã hội sang sự tê liệt—vẫn còn tồn tại như những nút thắt chấn thương trong trí nhớ con người. Hạch hạnh nhân có sức mạnh với trí nhớ như một chất keo siêu dính, và khi nó nắm bắt được một ký ức chấn thương, nó sẽ giữ ký ức đó mãi mãi trong hiện tại! Nó làm điều đó để bảo vệ cuộc sống của chúng ta và đảm bảo sự an toàn cho chúng ta. Nó muốn chúng ta học hỏi từ kinh nghiệm của mình, nên nó giữ cho những trải nghiệm đó luôn mới mẻ, tạo ra những bong bóng sang chấn – địa ngục của Mạng lưới Chế độ Mặc định (Default Mode Network). 

Hiểu về sang chấn có nghĩa là hiểu rằng không phải chính sự kiện tạo ra sang chấn. Mà là việc chúng ta đã cô đơn như thế nào trong sự kiện đó.

Khái niệm #9: Du hành thời gian với Sự cộng hưởng

Khi chúng ta trải qua những trải nghiệm sang chấn mà không có người đồng hành, hạch hạnh nhân sẽ gắn kết mọi thứ về trải nghiệm đó lại với nhau và lưu trữ những ký ức đó trong hiện tại. Hạch hạnh nhân làm điều này để những trải nghiệm kinh hoàng/sợ hãi đó sẽ giúp chúng ta KHÔNG BAO GIỜ trải nghiệm điều đó một lần nữa. Sang chấn là cách não bộ cố gắng giữ cho chúng ta an toàn thông qua ghi nhớ tất cả những lần chúng ta cảm thấy không an toàn, để chúng ta có thể tránh các trải nghiệm tương tự trong tương lai.

Thật khủng khiếp khi luôn luôn hiện diện với những dấu ấn trong quá khứ, nhưng điều này cũng có nghĩa là DMN của chúng ta luôn sẵn sàng cho sự cộng hưởng. Đây là điều đáng để hy vọng!

Chúng ta có thể du hành thời gian và mang theo sự cộng hưởng. Quá trình này bao gồm một số bước, luôn cần có sự kết nối bản thân, lựa chọn có ý thức và sự hỗ trợ đầy đủ.

Đầu tiên, khi chúng ta trải nghiệm một tác nhân gây kích hoạt, chúng ta rà soát cơ thể để xem các cảm giác của mình đang ở đâu.

Tiếp theo, chúng ta có thể tự hỏi, “Nếu các cảm giác và cảm xúc này  quen thuộc với mình, thì liệu mình đã từng cảm nhận chúng trước đây chưa? Trải nghiệm này có đang dẫn mình đến một ký ức, một độ tuổi, hay một cảm xúc cũ cần được biết đến và thấu hiểu không?”

Nếu chúng ta tìm thấy một ký ức để làm việc, chúng ta mang theo sự quan sát có tính ​​cộng hưởng của bản thân quay trở lại thời điểm của ký ức đó. Chúng ta mang theo sự ấm áp dành cho bản thân mình, và nhận thức tập trung vào cơ thể để đến thăm nỗi đau bị khóa chặt trong vùng ký ức chưa được tích hợp đó.

Quá trình này giúp ký ức được hợp nhất, dịch chuyển những nút thắt ký ức từ dạng ngầm, được giữ bởi hạch hạnh nhân, sang dạng tường minh, được giữ bởi hồi hải mã. Nhờ đó, chúng ta có thể đánh dấu thời điểm và đặt những trải nghiệm đã đi qua về đúng bối cảnh của chúng. Từ đó, chúng ta trở nên trọn vẹn hơn với chính mình, hiểu và trải nghiệm bản thân trong trạng thái an toàn của hệ thần kinh.

Khái niệm #10: Mạch Cảm xúc và Động lực

Nhà nghiên cứu về cảm xúc Jaak Panksepp đã chỉ ra rằng tất cả các loài động vật có vú, bao gồm cả con người, đều có bảy mạng lưới cảm xúc cơ bản, hay mạch cảm xúc, mang các năng lượng sống khác nhau của chúng ta trong hệ viền (limbic system) và hạch hạnh nhân. Có một mạch xử lý SỰ GIẬN DỮ; các mạch khác xử lý NỖI SỢ HÃI, SỰ TÌM KIẾM, DỤC VỌNG, HOẢNG LOẠN/ĐAU BUỒN và VUI CHƠI; và một mạch đặc biệt được gọi là mạch CHĂM SÓC. GHÊ TỞM gần đây đã được thêm vào như mạch thứ 8.

Với nhiều người trong chúng ta, những người đã sống mà thiếu đi sự cộng hưởng, chúng ta có thể cố gắng kìm nén tất cả các ‘mạch’ của mình cùng một lúc, dẫn đến trầm cảm, lo âu hoặc suy sụp. Hoặc chúng ta có thể phụ thuộc quá mức vào một mạch duy nhất, chẳng hạn để cơn giận trở thành kim chỉ nam duy nhất, vì những mạch còn lại chưa được đón nhận đủ để có thể cùng tham gia.

Khi có sự cộng hưởng, chúng ta bắt đầu hiểu được món quà của cảm xúc. Việc hiểu SỰ GIẬN DỮ (RAGE) giúp chúng ta kết nối với nguồn năng lượng bảo vệ và nuôi dưỡng sự sống, nguồn năng lượng khẳng định sự tồn tại của ta là có ý nghĩa. Hiểu được HOẢNG LOẠN (PANIC) khác với SỢ HÃI (FEAR) như thế nào cho phép ta trao cho chính mình sự đồng cảm chính xác khi lo âu xuất hiện. Việc tách bạch CHƠI (PLAY) khỏi TÌM KIẾM/KHÁM PHÁ (SEEKING) mở ra cho ta khả năng ngẫu hứng và sống động.

Porges, S. W. (2009). Lý thuyết đa dây thần kinh: Những hiểu biết mới về phản ứng thích ứng của hệ thần kinh tự chủ. Tạp chí Y học Cleveland Clinic, 76(Phụ lục 2). doi:10.3949/ccjm.76.s2.17

Nguồn: https://sarahpeyton.com/10-key-concepts-of-resonant-healing/

Dịch & hiệu đính: Thắm Trần, Trang Iris, May Liu, Khang Ng.

3 bình luận

  1. Bài dịch hay nhất về thần kinh và sang chấn mình từng đọc dù còn nhiều phép ẩn dụ nên đôi lúc mình lạc trôi theo phép ẩn dụ hihihi
    Xin cảm ơn GTTA

  2. Sâu sắc quá! Mình rất bất ngờ khi khám phá được nhiều ý nghĩa sâu sắc của chữa lành cộng hưởng! Mình rất biết ơn khi đọc được bài viết! Bài viết mở ra cho mình những gợi mở sâu hơn để khám phá trên hành trình tìm về chính mình và trọn vẹn với chính mình! Biết ơn và yêu thương!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *